Tháng Tư 2006

Khung Cửa Mở

Thứ Bảy, 1 Tháng Tư 2006

The Open Window
Nguyên tác của Saki


Ðôi lời giới thiệu:

Saki là bút hiệu của Hector Hugh Munro, sinh tại Miến Ðiện năm 1870. Là con của một tổng thanh tra cảnh sát Miến Ðiện khi Miến Ðiện còn thuộc Anh, lớn lên và học tại Anh Quốc. Ông bắt đầu nghề viết văn khi làm ký giả cho tờ The Morning Post tại Balkans, Nga, Paris rồi sau tại Luân Ðôn. Khi Ðệ I Thế Chiến bùng nổ, tuy đã gần bốn lăm tuổi nhưng ông gia nhập quân đội với cấp bậc thấp nhất và từ chối lãnh lương. Ông hy sinh trên chiến trường tại Pháp ngày 13-11-1916 do viên đạn bắn sẻ của một người lính Ðức. Hầu hết những tác phẩm của ông đều được xuất bản sau khi ông qua đời.

Truyện của ông đầy những bất ngờ. “Khung Cửa Mở” (The Open Window) là một trong những điển hình của khả năng kết hợp tài tình giữa tính hài hước và kinh dị trong thể loại truyện ngắn.

♦♦♦

“Cô cháu sẽ xuống ngay thưa ông Nuttel, trong khi chờ đợi, cháu rất hân hạnh được tiếp chuyện với ông,” cô bé mười lăm tuổi nói với giọng thật tự tin.

Framton Nuttel cố gắng nói một cách đúng mực, sao cho vui lòng cô cháu gái mà không làm tổn thương bà cô. Nhưng trong thâm tâm chàng ta rất lo âu. Chàng không biết một loạt những đợt thăm viếng những người lạ như thế này có giúp gì trong việc chữa trị căn bệnh tâm thần của mình không.

“Chị biết câu chuyện rồi sẽ như thế nào,” bà chị của chàng đã nói thế khi chàng sửa soạn ra đi. “Cậu phải sống yên một mình. Ðừng tiếp xúc với ai, nếu không bệnh tâm thần của cậu sẽ lại nặng thêm thôi. Cậu chỉ nên thăm viếng một vài người mà chị quen biết. Trong số đó một vài người họ rất dễ thương.”

Framton hy vọng Bà Sappleton người mà chàng đang thăm viếng đây nằm trong số người “dễ thương” đó.

“Ông có quen biết nhiều người trong vùng này không?” thình lình cô bé hỏi sau khi cảm thấy sự im lặng đã vừa đủ giữa hai người.

Framton giật mình. “Hầu như không quen biết ai,” chàng đáp. “Chị tôi ở đây khoảng bốn năm, tại nhà của ông mục sư, chị giới thiệu tôi tới thăm một số những vị ở đây.” Khi nói câu này rõ ràng giọng của chàng ta tỏ ra tiếc nuối.

“Vậy thì ông hoàn toàn không biết gì về bà cô của cháu à?” cô gái điềm nhiên hỏi.

“Chỉ biết tên và địa chỉ của bà thôi,” chàng ta thú nhận.

Framton nhìn quanh căn phòng, tự hỏi không biết BàSappleton đã lập gia đình chưa hay bà là một góa phụ. Một vài đồ vật cho chàng cảm tưởng là căn nhà này có sự hiện diện của đàn ông.

“Một thảm kịch đã xảy đến cho cô cháu đúng vào ngày này cách đây mới ba năm,” cô gái nói. “Chuyện xảy ra khi bà chị của ông đã rời khỏi nơi đây.”

“Thảm kịch hả?” Framton hỏi. Dầu sao thì thảm kịch cũng khó lòng xảy ra tại một vùng quê yên tĩnh như thế này.

“Ông có thể ngạc nhiên tại sao cô cháu lại để ngỏ khung cửa sổ vào buổi chiều lạnh thấu buốt của Tháng Mười như thế.” Cô gái vừa nói vừa lấy tay chỉ vào khung cửa sổ rộng kiểu Pháp ăn thông ra ngoài vườn.

“À, năm nay vào tháng này trời ấm,” Framton đáp.

“Nhưng có chuyện đó có liên quan gì đến cánh cửa sổ không?”

“Cách đây ba năm, cũng vào ngày này, ông chồng của cô cháu và hai người em phóng ra ngoài cánh cửa sổ đó. Họ đi săn chim rẽ nhưng không bao giờ quay trở lại. Cả ba đều chết khi bị chôn sống dưới đầm lầy. Mùa hè năm đó mưa như trút nước, như ông cũng biết. Nhiều chỗ năm này thì an toàn, khô ráo nhưng năm khác lại xụp lở bất ngờ. Xác ba người không sao tìm ra. Ðó phần ghê gớm nhất của câu chuyện.”

Tới đây thì giọng cô bé mất hết bình tĩnh và trở nên nghẹn ngào.

“Bà cô khốn khổ của cháu vẫn cứ tin tưởng là một ngày nào đó ba người sẽ trở về. Họ sẽ trở về cùng với con chó nhỏ màu nâu cũng bị chôn sống ở đầm lầy với họ. Cô cháu nghĩ rằng họ sẽ nhảy qua cánh cửa sổ để vào nhà như cách mà họ đã ra đi trước đây. Chính vì thế mà cánh cửa cứ mở ngỏ cho đến khi chiều tối. Bà cô khốn khổ của cháu thường kể cho cháu nghe chuyện ba người ra đi như thế nào. Ông cậu thì khoác chiếc áo măng-tô trắng ngang vai. Còn cậu em Ronnie thì cứ hát ‘ Berti ơi..tại sao em lại nhảy…’ để chọc ghẹo bà, vì bài hát này làm bà nhức đầu.”

Tới đây cô bé dừng lại.

“Ông biết không,” cô gái nói tiếp, “vào những buổi chiều im ắng như thế này, cháu có cảm tưởng lạnh xương sống khi nghĩ đến chuyện ba người nhảy vào nhà qua khung cửa bỏ ngỏ đó…”

Cô gái rùng mình rồi đột nhiên dừng lại. Còn chàng Framton thì thở phào nhẹ nhõm khi bà cô bất thần xuất hiện ở phòng khách và rối rít xin lỗi vì đã xuống lầu tiếp khách hơi trễ.

“Tôi hy vọng là ông đã nói chuyện vui vẻ với cháu Vera,” Bà Sappleton nói.

“Cô bé nói chuyện thật hay,” Framton đáp.

“Mong ông bỏ qua cho việc mở ngỏ cánh cửa sổ kia,” bà cô nói với giọng phấn chấn.” Chồng tôi và hai cậu em sẽ về trong chốc lát. Họ đi săn và thường vào nhà bằng ngả đó. Lại làm lấm cả mấy tấm thảm đẹp của tôi thôi. Ðàn ông các ông thì vẫn thế. Có phải vậy không ông?”

Bà nói chuyện rất vui vẻ. Bà huyên thuyên tiếp tục về chuyện đi săn, chuyện chim rẽ hiếm hoi vào mùa này và tương lai sẽ có vịt trời vào mùa đông. Còn đối với Framton thì thật là khủng khiếp. Chàng cố gắng chuyển câu chuyện sang đề tài bớt ghê rợn hơn. Nhưng Bà Sappleton hầu như không để ý đến điều đó. Bà tiếp tục đưa mắt nhìn ra ngoài khung cửa. Thật là tai họa khi chàng tới đây đúng vào ngày cách đây ba năm gia đình người ta có ba người chết.

“Bác sĩ nói tôi phải tuyệt đối nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, tránh mọi vận động mạnh về cơ thể,” Framton chân tình giải thích và hy vọng rằng, theo thông lệ mọi người đều tỏ ra cảm thông tới bệnh tật của người khác và thường ân cần hỏi han về những chi tiết, nguyên do và cách chữa trị. “Còn về vấn đề ăn uống thì các bác sĩ chưa đồng ý với nhau.” Framton nói tiếp.

“Chưa hả?” Bà Sappleton hững hờ hỏi nhưng thật ra câu hỏi chỉ để che dấu cái ngáp vào phút cuối. Bất thần bà ta chú ý, mặt bà sáng lên…nhưng không phải vì những lời mà chàng vừa nói.

“Ồ, họ về rồi, thế chứ!” bà kêu lên. “Ðúng giờ uống trà. Trời ơi cả ba lấm bùn be bét!”

Framton khẽ run lên. Chàng ta rầu rĩ lắc đầu rồi quay qua nhìn cô bé như thể cảm thông với những gì cô ta nói trước đây.

Nhưng cô bé cũng đang mải nhìn ra ngoài khung cửa với đôi mắt mở to kinh hoảng. Nỗi khủng khiếp hiện lên đôi mắt của chàng. Trong sự hoảng sợ tột độ, Framton xoay như chiếc lò xo trên ghế, mắt nhìn ra ngoài khung cửa.

Trong bóng tối chập choạng, ba bóng người đang vượt qua bãi cỏ. Họ đang tiến về phía căn nhà. Cả ba đều quàng súng. Một trong ba người khoác chiếc áo măng-tô trắng ngang vai. Một con chó nhỏ màu nâu mệt nhọc chạy theo bén gót. Rất âm thầm, cả ba tiến dần tới căn nhà. Rồi một giọng trẻ trung cất lên ‘Berti ơi…tại sao em lại nhảy..’”

Framton bật dậy. Chàng vớ vội lấy cây gậy và chiếc áo khoác. Cửa ra vào, con đường trải sỏi và chiếc cổng chính là những gì chàng còn mơ hồ nhận được trên bước đường tháo chạy. Một nguời đi xe đạp phải phóng vào hàng rào để tránh đụng phải chàng trong lúc chàng ba chân bốn cẳng chạy.

“Bọn anh về đây rồi em ơi,” người đàn ông khoác chiếc măng-tô kêu lên. “Vài chỗ hơi lầy nhưng đâu đó đều khô. Thằng cha nào phóng ra ngoài khi bọn anh vừa về vậy?”

“Một người rất kỳ khôi, ồ…một anh chàng Framton nào đó.” Bà Sappleton nói “Anh ta chỉ nói về bệnh tật của mình. Anh ta có vẻ rất bồn chồn rồi vụt bỏ chạy chẳng nói một lời khi anh về tới, như thể nhìn thấy ma vậy.”

“Có thể là vì con chó săn,” cô bé Vera nói tỉnh bơ. “Ông ta kể cho cháu nghe câu chuyện khủng khiếp về chó. Có một lần, ở bên bờ Sông Hằng Hà, ông ta bị dồn vào một nghĩa địa bởi một bày chó ngao. Cả đêm hôm đó ông ta phải núp ở dưới chiếc mả mới đào trong khi bày chó dại nhe răng, gầm gừ, sùi bọt mép ở bên trên. Chuyện khủng khiếp như thế thì ai mà chẳng ám ảnh và lo sợ.”

“Cô nghĩ có thể là vì vậy.” bà cô cũng đồng ý.

Tài bịa chuyện hay và mau lẹ như cô bé thật không ai qua nổi. /.